nước lạc việt ở thế giới mới

Hình thànhSửa đổi. Theo hai bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư (viết ở thế kỷ 15) và Đại Việt sử lược (viết ở thế kỷ 13), thì nhà nước Âu Lạc được Thục Phán (thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt) thành lập vào năm 258 TCN sau khi đánh bại vị vua Hùng cuối cùng của nước Văn Lang, ông lên ngôi và lấy niên Riêng tôi, xin nêu lên 1 lý do ít người nhắc tới, mà theo tôi, đây là 1 lý do cốt lõi, dẫn đến nhiều lý do khác làm cho chúng ta vẫn mãi nghèo nàn và lạc hậu. Đó là sự lãng phí. Lãng phí ở đây không chỉ là tiền bạc, của cải vật chất mà là lãng phí về mặt tri thức Nét đặc sắc trong tư duy của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Đối với Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Nhiều thập niên chiến tranh đã đưa Afghanistan xuống hàng những nước nghèo khó nhất thế giới trong cuộc khảo sát về chỉ số phát triển con người ở 177 nước của LHQ, chỉ trên Burundi, Mali, Burkina Faso,Nigeria và Sierre Leone. Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng đời sống tinh thần nói chung và ý thức xã hội mới nói riêng hiện nay ở nước ta là tiến hành đấu tranh hạn chế và khắc phục các loại hình tư tưởng, phong tục, tập quán cũ, lạc hậu đó. Rencontre Internet Comment Savoir Si Je Lui Plais. Thời gian quá gấp gáp, súng Gan Ga 1795 làm ra mỗi ngày đều đưa thẳng đến doanh trại của tân Toản cho tân quân Lạc Việt dần thay đổi súng mới để họ luyện tập, những súng cũ lại đem đến cho Vũ Văn Dũng, súng mới quá nặng nề, khiến cho việc cầm tay chiến đấu lâu dài trở thành một hạn chế lớn khi trang bị cho bộ binh, Quang Toản nghĩ đến việc dùng đến voi, và ngựa làm đặt giá súng, nhưng ngựa không phải binh lính nào cũng có thể cưỡi được, Quang Toản vừa lấy 500 kỵ binh từ Lý Văn Bưu nhập vào Lạc Việt quân, sai Phan Thuận cho lắp trên mỗi yên ngựa một giá súng giúp kỵ binh thực hiện xạ kích ngay trên lưng ngựa. Nhưng giá súng trên lưng ngựa chỉ có thể giúp kỵ binh treo vũ khí chứ không giúp họ vừa xạ kích vừa chạy, đầu tiên là do kỹ năng của người ngồi trên ngựa còn hạn chế, việc hai tay buông dây cương lúc ngựa đang phi nước kiệu không phải ai cũng làm được, sau lại do mức độ chính xác không cao khi khai hỏa trong tư thế ấy. Quang Toản đành để họ tập luyện chiến đấu theo lối du kích kỵ, chia ra từng tiểu đội kỵ binh, bắn sau đó chạy chuyển vị trí rồi lại bắn, nhóm này yểm trợ nhóm kia, lúc chạy mà bị đối phương đuổi theo thì dùng lựu đạn để ném. Tiểu đoàn trưởng chỉ huy kỵ binh tên là Vũ Văn Thành tỏ ra rất thích thú với kiểu chiến đấu mới này, trong khi có một số người tự hỏi trong lòng, cách này có phải rất bỉ ổi không?’Lại nói tân quân Lạc Việt, hiện tại có tất cả 2500 người được chia ra làm năm tiểu đoàn, trước đây lúc mới thành lập, Trần Quách Tĩnh là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 101 và Dương Thiếc là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 103, sau khi hai người này đi nhận chức mới Phan Văn Lân liền đem Đỗ Quốc từ tiểu đoàn 104 sang làm tiểu đoàn trưởng 101, Hữu Nam vẫn là tiểu đoàn trưởng 102, Lê Văn An, một chiến sỹ có thành tích huấn luyện giỏi của tân quân được cất nhắc làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 103, ở tiểu đoàn 104, Quang Toản đem Trần Danh Tuấn vào thử thách ở đây, y trước là tay kiếm giỏi, lúc theo sứ đoàn sang Tây, dùng kiếm của mình đánh bại các tay kiếm Châu Âu giúp dương danh Đại Việt ra bên ngoài, được Trần Văn Kỷ đặc biệt thưởng thức, ra sức tiến cử, thật ra Trần Danh Tuấn trước khi thành danh vốn là thân binh của Trần Quang Diệu rồi. Quang Toản bằng nhiều lý do, lấy đi của Trần Quang Diệu gần hết binh quyền, từ hai vạn người xuống còn chưa đến tám ngàn quân, tuy ông ta không ý kiến gì nhưng hắn vẫn thấy áy náy, hơn nữa trong Lạc Việt quân có không ít người vốn là thuộc hạ đắc ý của các tướng lĩnh Tây Sơn, vì tân quân vốn là tập hợp các cá nhân xuất sắc đến từ nhiều doanh khác nhau, nổi lên như một thế lực thân tín của Hoàng Đế trong tương lai, đa số đều nhận định Quang Toản đang sửa soạn cho việc xây dựng trung quân, không thể nghi ngờ, các tướng lĩnh Đại Việt trong tương lai chắc chắn sẽ trưởng thành từ đây, một vị trí thân tín trong đó là điều đáng được dành giật, nhưng người của Trần Quang Diệu dường như không có, việc để Trần Danh Tuấn vào tiểu đoàn 104 cũng vì một phần do nguyên nhân này, cân bằng quyền lực lúc nào cũng đáng được lưu kỵ binh sau khi được sát nhập vào tân quân, gọi là tiểu đoàn kỵ binh số 201, tên Vũ Văn Thành gian xảo kia, Quang Toản cũng đào từ Lý Văn Bưu ra, bố trí cho đám người mới này xong, hắn vẫn thấy có điều gì chưa ổn lắm, chợt nhớ đến một binh chủng quan trọng không thể thiếu trong thời đại này, Tượng Binh!Để Bùi Thị Xuân gom góp voi chiến và quản tượng ưu tú, Quang Toản chọn lấy 250 con, sắp xếp trên mỗi voi hai giá súng, giao cho tiểu đoàn 104, mỗi voi xếp hai xạ thủ. Vì lượng voi có hạn nên Quang Toản chỉ đủ sắp xếp cho một tiểu đoàn, ba tiểu đoàn còn lại đành phải làm bộ binh hạng nặng bất đắc dĩ. Sau đó cho Lạc Việt Quân bí mật xuất phát thẳng hướng đồn Ninh Hòa, Nguyễn Văn Lộc mang theo pháo binh cùng trí xong hết thảy ngày 16 tháng 12 năm 1795 Al Quang Toản xuất phát cùng thủy binh Nguyễn Văn Tuyết từ cảng Thuận An đến Hòn Lớn sau đó tiến đến đồn Ninh Hòa. Tại đây Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú đem gươm ra chịu tội, Quang Toản nói.“Tướng dẫn binh sa trường lâu ngày mà phạm vào tội như vậy quả đáng chém, Nhưng thắng thua cũng là chuyện bình thường của nhà binh, huống chi đang trong chiến trận kỵ việc chém soái, tạm thời giữ mạng hai ngươi lại, chờ sau trận chiến lại xử tội cũng không muộn” Quang Toản rạch ròi đó Quang Toản cử thám báo trinh sát xuất phát dò đường, phong Võ Văn Dũng làm tả quân lĩnh binh sáu ngàn người, để Vũ Đình Tú làm hữu quân lĩnh binh sáu ngàn người, Phạm Văn Điềm làm hậu quân dẫn binh 6000, Phan Văn Lân làm tiền quân suất lĩnh 6000 người, Quang Toản trấn giữ trung quân, nhưng cờ hiệu lại lấy danh nghĩa của Nguyễn Văn Lộc, gồm quân cận vệ 500 người, pháo binh và Lạc Việt quân. Bùi Thị Xuân lo việc hậu cần quân bị. Đặng Xuân Bảo và Nguyễn Văn Tuyết đem thủy quân ra đóng ở ngoài khơi Cam Ranh nhằm trợ chiến. Trong tả quân, hữu quân, và tiền quân, có sự xuất hiện của binh chủng mới, lính súng kíp kiểu âu, vừa được gấp rút huấn luyện hơn hai tháng, chiếm gần một nửa quân 24 tháng 12 năm 1795 Quang Toản lệnh Phan Văn Lân suất lĩnh tiền quân đi trước, hắn dẫn toàn quân đi sau, thẳng hướng thành Diên Diêm Khánh chứa bốn vạn quân tinh nhuệ của Gia Định, trên tường thành có gần ngàn pháo đạn lớn nhỏ, một nửa số đó lấy từ cuộc rút chạy của Võ Văn Dũng, giữ thành có tả quân Lê Văn Duyệt, Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm chỉ huy, tường thành bằng đá cao bốn mét, phía trước thành có hào bảo vệ, lương thực đủ dùng cả năm, là nơi dễ thủ khó công, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng từng nếm không ít quả đắng nơi đây. Chính Quang Toản cũng không lấy gì nắm chắc hạ được thành này, nhưng nếu hạ được nó, đường đến Gia Định không còn quá chân thành Diên Khánh, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành cho quân dàn trận chờ Quang Toản đến, Phan Văn Lân thấy quân địch đông không dám sơ suất, liền giảm tốc độ hành quân, chờ đại quân phía sau đến. “ Bên địch có bao nhiêu binh quân, bố trí ra sao” Quang Toản hỏi“ Địch quân ba vạn ra ứng chiến với chúng ta, tướng xuất thành là Lê Văn Duyệt, bên cánh phải có năm mươi voi chiến, bộ binh dùng hỏa thương tám ngàn, bên cánh phải có 100 xa pháo, kỵ binh hai ngàn xếp phía sau, còn lại là xếp ở trung quân mâu binh xếp trước, hỏa thương binh xếp sau cùng là cung tiễn thủ hai bạn người, trung quân là nơi mạnh nhất của địch.” Phan Văn Lân báo Toản nghe xong liền méo mặt, hắn quên mất là mình đang ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, hai bên dàn quân chờ đánh trận, trận chiến theo kiểu thí quân thí tướng, bên nào kiên trì được đến cuối cùng coi như thắng, chứ không phải lối đánh đột kích như chiến tranh sau này. Rất không may ở trường quân sự thế giới trước, hắn không được dạy về loại chiến thuật này, với lại do thói quen không muốn đánh đấm theo kiểu giết địch một ngàn bị thương tám trăm nên nhất thời hắn chưa biết phải ra lệnh như thế nào cho phải, phải mất một hồi lâu Quang Toản mới ra được mệnh lệnh đầu tiên. “ Tả quân bên phải, hữu quân bên trái, Pháo dàn trước trận, bộ binh Lạc Việt quân đứng phía sau bảo vệ pháo, Tượng binh đứng trước tả quân, kỵ binh đứng sau hữu quân, tiền quân tiến lên trước mười bước làm nghi binh, hậu quân làm dự bị chia bốn tốp dàn ngang chờ lệnh. Tất cả vào vị trí, chờ lệnh tấn công” Quang Toản ra lệnh lính thông tin tỏa ra đi báo với các nơi.“ Tả quân đợi lệnh, hữu quân đợi lệnh, tiền quân, hậu quân đợi lệnh, Lạc Việt quân đợi lệnh, Pháo quân đợi lệnh!” tất cả các vị trí sau khi sắp xếp liền báo về đã sẵn sàng.“Xa pháo hướng thẳng quân địch bắn liên tục không nghỉ, hữu quân lui về sau năm mươi bước ra ngoài tầm đạn pháo địch” Quang Toản ra lệnh.“ Bùm.. đùng!”Quang Toản phát hiện ra điểm yếu trong cách bố trí pháo của Lê Văn Duyệt nên ra lệnh hữu quân lùi phía sau, lại lệnh pháo bắn không ngừng nghỉ nhằm ép Lê Văn Duyệt tấn công trước. Như vậy Quang Toản sẽ có lợi thế hơn. Với lại hắn cũng không quá rành rẽ về cách điều binh bố trận của loại hình chiến thuật thời đại này, chỉ đành theo kiểu truyền thống, tiền pháo hậu xung mà ra nòng pháo không đủ chuẩn về chất lượng thép, pháo binh vẫn phải dùng thuốc nổ đen để nhồi. Đạn pháo liên tục bắn ra khói đen trở nên mịt mù, Lê Văn Duyệt cũng cho pháo đáp trả nhưng vì hữu quân Phú Xuân đã lui ra sau nên không mấy hiệu quả. Pháo của Nguyễn Văn Lộc chi phối cả ba cánh quân của Lê Văn Duyệt liên tục xạ kích vào đội hình mãi không có dấu hiệu dừng lại, thương vong cũng vì đó mà tăng lên, chỉ sau hai khắc 30p ước chừng đã có năm trăm lính Gia Định chết vì pháo kích. Pháo thời đại này vẫn dùng đạn cầu đặc, lúc bắn ra đẩy viên đạn đi thẳng hướng vào trận địa đối phương rồi lăn lông lốc vài vòng và nằm im, chẳng có hiện tượng nổ bùm như loại đạn nổ sau này, nên đạn bắn thì nhiều, nổ thì to, khói bụi mịt mù nhưng khả năng sát thương không lớn, chủ yếu vẫn là để hù dọa tin thần binh sĩ đối phương, đạn đặc không nổ, phạm vi sát thương kém nhược, nhưng nếu binh lính trực tiếp trúng đạn chỉ có nước thành thịt nhão, sẽ cảm thấy như thế nào khi ngươi bên cạnh vừa đứng xếp hàng với mình nay thành đống máu thịt lẫn lộn, chỉ có binh sỹ trong cuộc mới hiểu, nó làm cho người ta run lẩy bẩy, mất sức chiến đấu như thế nào, khả năng trúng đạn trực tiếp là rất thấp nhưng suốt thời gian pháo kích lúc nào cũng trong trạng thái lo sợ, tinh thần cực độ tiêu hao.“Cứ để đối phương bắn gắt như thế này mà không đáp trả, sẽ ảnh hưởng lớn đến sỹ khí, pháo binh của ta đâu? Cho đáp trả mạnh vào, bắn cho chúng ngỏm luôn đi!” Lê Văn Duyệt ra lệnh.“Chúng ta bắn không đến! Xin tướng quân cho pháo đổi hướng tấn công!”“Ngu ngốc! Bây giờ đổi trận địa còn kịp sao? Vô dụng, toàn là đồ bỏ đi cả, dặn kỵ binh sẵn sàng đi, tập kích thăm dò cánh trái của chúng” Lê Văn Duyệt trở nên ngày càng sốt ruột. Lệnh cho kỵ binh chuẩn bị tấn công. Thấy kỵ binh đối phương có dị động, Quang Toản lệnh để bộ binh cầm súng kíp xếp thành đội hình ô vuông sẵn, lệnh bộ binh Lạc Việt quân đang ở bên cạnh xa pháo chuyển sang tư thế quỳ bắn, phòng ngừa đối phương bỏ qua mục tiêu hai cánh mà đánh vào pháo binh. Võ Văn Dũng và Vũ Đình Tú và các tướng lĩnh khác thấy Lạc Việt quân quỳ xuống chĩa súng ra phía trước trông thấy lạ, nhưng không thể rời vị trí nên chẳng thể đến bên Quang Toản để hỏi thăm được, đành kìm nén tò mò mà chờ đợi.“Các ông nói có phải chúng sợ quá mà quỳ xuống không?” một viên quan tham tá bên cạnh Lê Văn Duyệt chỉ trỏ mà nói làm cả đám tướng sỹ xung quanh cười sang sảng.“Ha.. ha.. ha.. ha.”Quả nhiên hai ngàn kỵ binh của Lê Văn Duyệt tiến lên ý đồ từ cánh trái đánh vào, đầu tiên gặp phải pháo kích buộc chúng phải chạy vòng tấn công phía sườn cánh quân phía trái đang lộ ra sơ hở, nào ngờ tại đây có hai khối vuông súng kíp chờ sẵn, súng bắn, lựu đạn được ném ra, gây thiệt hại nặng cho toán kỵ binh quân Lê Văn Duyệt, thêm kỵ binh Lạc Việt quân nối đuôi chạy vòng cung phía ngoài, xạ kích vào đám đông kỵ binh đối phương, rồi lại chạy theo kiểu du kích.“Chúng làm gì kia! Đám đạo tặc Tây Sơn biết dùng trận pháp từ khi nào?” Lê Văn Duyệt nhìn thấy quân Tây Sơn biến đổi trận hình, không nhịn được mà thốt lên.“Cái này giống cái như cơ đội Oliver vẫn thường nhắc đến, trận hình vuông” một quan tá trả lời.“Đám Tây Dương ấy cũng biết dùng trận pháp! Sao chưa bao giờ nghe qua?” Lê Văn Duyêt thắc mắc nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu từ viên tham tá.“Chỉ là cách sắp xếp đội hình cho lính hỏa thương, chúng như con nhím vậy, không linh động lúc giáp mặt đối địch, nhưng bây giờ đúng là rất có hiệu quả, xem ra chủ tướng địch rất giỏi ứng biến.” Viên tham tá nhận xét.“Hừ..! Nếu ta có trong tay một đám cung kỵ, liền chẳng sợ bọn nó, cái ngữ ấy chỉ cần một đội cung kỵ thôi liền tàn phế, chỉ tiếc kỵ binh của ta chỉ dùng được đao, không thiện dùng cung.” Lê Văn Duyệt không hổ là lão tướng sa trường lần đầu đã nhìn ngay ra được ưu nhược điểm của quân Phú Xuân, chỉ hận dù biết cũng không thể phá.“Tướng quân cho quân mang khiêng chắn tiến lên mở đường xông thẳng vào một chỗ liền phá được quân ấy, cần gì đến cung kỵ”“Ta cho quân mang khiêng tiến lên, bọn chúng cũng sẽ xuất binh, trong hỗn chiến, kỵ binh của ta còn có tác dụng rắm nữa sao?” Lê Văn Duyệt nói rất đúng, thử hỏi sức mạnh của kỵ binh nằm ở chỗ nào? Ưu thế là gì? Chính là nằm ở chữ kỵ, dùng đà tiến của ngựa, sức tì đè mà càn lướt đột phá, sự xung phong tốc độ cao của kỵ binh tạo nên tầng tầng lớp lớp từng cơn sống xung kích, như mũi mâu đâm thẳng vào đội hình đối thủ, chia cắt quân địch, nói nôm na, kỵ binh như những chiếc xe ủi trên chiến trường, nếu như kỵ binh mất đi ưu thế về càn lướt và quán tính của tốc độ, sa lầy vào hỗn chiến thì coi như xong, khi đó kỵ binh chỉ được xem là bộ binh cưỡi ngựa mà thôi, vướng víu, mất đi ưu thế, đồng nghĩa với việc lộ ra nhược điểm, chiến đấu trong điều kiện như vậy sao linh hoạt bằng bộ binh đang đứng bởi chính bàn chân mình trên vậy, trong chiến tranh lực lượng hỗn chiến bao giờ cũng là bộ binh, kỵ binh thường được dùng trong các việc như, do thám, vu hồi, dẫn dụ, bọc hậu, hộ tống, đột kích mở đường, chủ yếu vẫn dùng vào thời điểm khai chiến và hậu chiến, xây dựng được kỵ binh rất khó, cực hao tốn tiền của và thời gian, chẳng ai dại dội sử dụng chúng để hỗn chiến cả, trừ khi gặp phải chủ soái quá ngu ngốc. Hắn hối thúc, còn lão Phúc lại càng lắp bắp Người dân! Người dân cũng xuất phát từ nhu Toản nghe xong câu này liền mừng, cười to như tìm được kho báu vậy. còn lão Phúc được thả ra tuy không hiểu là do chuyện gì nhưng cũng thấy nhẹ nhõm. May không phải là do mình nói sai, nghĩ thầm “ thật gần vua như gần cọp mà”- Ha ha , đúng ! nói hay lắm! người dân làm gì cũng xuất phát từ nhu cầu! thật là xuất phát từ nhu cầu. Ông hôm nay lập công to rồi. Mau nói di. Ông muốn thưởng Phúc nghe đến đây thật không biết là chuyện đầu xuôi đuôi móng gì. Ai làm gì cũng là xuất phát từ nhu cầu, cái này có ai mà không nói được. Đúng là không thể hiểu nổi cái gọi là thuật làm đế vương rồi. mới làm người khác sợ hết hồn đó nay quay sang cười nói nhẹ tâng. Đương nhiên lão phúc là ai chứ. Sao lại vì lần cao hứng nhất thời này của Hoàng Thượng mà chạy theo đòi hỏi Con chỉ là lúc vô ý nói ra lời làm hợp lòng hoàng thượng. Không cần có con hoàng thượng cũng có thể tự ngài nghĩ ra được. Con chỉ cần ngày ngày có thể theo hầu hạ Hoàng Thượng là đã phúc đức lắm Được! công của lão hôm nay ta sẽ nhớ. Chờ lần sau thưởng luôn một thể biết còn lần sau nữa hay không nhưng nếu thật có hắn cũng chẳng e ngại gì mà thưởng cho như vậy đấy. mọi chuyện có lẽ nên bàn lại từ nhu cầu của người dân chứ không phải từ ý chí của hắn. Nếu như biết cách đánh vào nhu cầu của họ thì chuyện này sẽ được giải quyết một cách dễ dàng. Hắn nhớ đến một câu chuyện ở kiếp trước, các thương nhân người Hoa muốn bán đi một lượng tồn kho lưới cào, do ở các nước khác đã cấm sử dụng loại lưới này để đánh bắt. Họ vào nước Việt tung tin thu mua loại hải sản sống ở đáy biển với giá cao ngất. khổ nỗi ngư dân muốn bắt loại hải sản này phải dùng đến lưới cào. Bởi vậy đám thương nhân đã bán được đám lưới tồn kho với giá ngất ngưởng sau khi hoàn thành mục tiêu này loại hải sản kia đột nhiên mất giá do không ai thu mua làm gì cả. ngư dân lại tốn một đống tiền đầu tư ngư cụ rồi đem về xếp là một hành động lừa đảo đáng lên án nhưng hắn tìm trong đây một giải pháp thích hợp cho tình hình hiện nay. Lúc này nếu Quang Toản vừa cho khuyến khích trồng dâu tằm vừa cho thu mua tơ với giá cao vậy chẳng phải làm cho người dân nhanh chóng thấy được cái lợi mà chú trọng phát triển dâu tằm hay sao. Hắn tin tưởng với nhu cầu và sự ưa chuộng của người phương tây đối với tơ tằm, chăc chắn mặt hàng này sẽ ngày một lên giá. Thậm chí loại nguyên liệu này có thể tăng lên gấp mười lần với giá hiện tại hoặc cao hơn nữa mà giờ hắn vẫn chưa thể hình dung ra. Nhưng đó là điều chắc Đi! Chúng ta đến cung vạn người hầu nghe Quang Toản muốn đến cung vạn thọ nơi ở của thái hậu. liền cất bước theo sau, chẳng ai lấy đó làm bất ngờ cả, thường ngày bệ hạ vẫn đến chỗ chính cung hoàng hậu đó sao? Việc ở lại dùng bữa là chuyện với Quang Toản lại khác. Lần này hắn muốn đến chỗ mẹ mình là có chuyện lớn muốn nhờ đến. Phải nói trong hoàng cung này người có tiếng nói lớn nhất không phải là Quang Toản mà chính là vị chính cung hoàng thái hậu này. Đám cựu thần có thể không tuân theo hắn nhưng ai dám nói không tuân theo chủ mẫu chứ. Với lại mẹ hắn đâu phải là vị chủ mẫu bình thường. Bà là chính cung, hơn nữa lại mang trên mình tài hoa cùng phẩm đức. Xuất thân là một võ tướng sau này khi lấy chồng lại lui về phía sau làm một người mẹ nhân từ. Vậy nên bà ít dính dáng đến chuyện triều Mẹ! Hài nhi ra mắt Con ngồi đi. Có chuyện chi làm con hôm nay vui vậy?- Mẹ à! Có chuyện này con muốn kể cho mẹ nghe. Mẹ phải giúp con lần này mới nghe vậy liền cười mà Con kể mạ nghe nào. Lại gây ra chuyện gì rồi phải không! Nhanh kể! Có lần nào mà mẹ không giúp con đâu?Hắn nghe vậy cũng gật đầu, đúng là như vậy. Bà đúng là một người mẹ hiền, hắn từ lâu đã coi bà là mẹ ruột của mình. Thầm hứa với lòng sẽ không để bà phải chịu khổ đơn độc, sẽ không để lịch sử bi thương kia tái diễn với bà. Điều đó là không thể a!.Quang Toản đem những chuyện liên quan đến dâu tằm, mặt lợi mặt hại tất tất hết thảy đều nói ra. Cuối cùng là nhờ bà đứng ra tuyên bố vì muốn dạy cung nữ con gái biết dệt vải mà sẽ mua một lượng lớn tơ tằm, trong thời gian dài. Thái hậu Bùi thị Lan ban đầu nghe còn bình tĩnh nhưng càng về sau càng phải dùng ánh mắt không thể tin được để nhìn hắn, cũng không phải bà để ý đến chuyện máy dệt vải nhanh gấp cả trăm lần so với con người hay buôn bán với người tây dương, mà bà kinh ngạc vì lối suy nghĩ và cách nhìn nhận của Quang Toản . trong đó có nhiều cái lâu nay chính nghĩ bà cũng không dám đấy. Càng nghe càng vui mừng, bà triệt để vui mừng rồi, không ngờ con của mình lại nhanh chóng trưởng thành như vậy, bảo bối của mẹ a. Giờ Quang Toản có kêu bà đi chịu chết bà cũng cam lòng huống chi chỉ vài lời tuyên bố ra bên ngoài. Cho thấy tấm lòng của người làm cha mẹ vui mừng như thế nào khi thấy con của mình khôn lớn thành đạt. Sự hi sinh mà họ có thể dành cho con mình là điều không thể đếm hết Được! Chuyện này mẹ sẽ làm theo lời Mẹ à! Cám ơn mẹ! Yêu mẹ Cái tên này chỉ được cái giỏi nịnh Mẹ à! Mẹ quên một người nữa sao. Dù sao một mình mẹ cũng làm không xuể. Với lại ở bắc hà sức ảnh hưởng của người này cũng rất Con nói là nàng sao? Chuyện này mẹ sẽ nói Quang Toản muốn đề cập chính là đông cung thái hậu Lê Ngọc Hân. Quả thật nếu sức ảnh hưởng của mẹ hắn trong triều đình lớn như thế nào thì Lê ngọc Hân cũng có ảnh hưởng lớn như vậy đến người dân bắc hà. Nên nhớ lãnh thổ hiện tại mà nhà Tây Sơn đang kiểm soát chủ yếu là vùng đất bắc hà đấy. Như mọi khi, hai mẹ con ngồi nói chuyện thêm một lúc, rồi cùng dùng bữa. Khi hắn quay lại phòng của mình đã là đêm rồi. Dưới ánh đèn hiu hắt này thật dễ khiến cho người ta có cảm giác buồn ngủMấy hôm nay trăng tròn. Soi sáng cả hoàng cung. Hắn thường xuyên ra sân ngồi thuận miệng hát râm rang vài ca khúc đủ các thể loại nhạc, đủ các loại bài hát mà hắn còn thuộc ở kiếp Hoàng Thượng hát nghe thật êm tai, lại đầy ý lão Phúc Toản biết hắn là đang nịnh hót đấy, nhưng cũng tự cho là đúng vì hắn đương nhiên tự tin với giọng ca của mình. Với những ca khúc rất vui và dễ hiểu nên nghe qua liền cảm giác mang đầy ý nghĩa là phải. Nên nhớ nhạc mà anh hát là có một không hai trên thế giới ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu của hắn. Nếu như dạy cho những người xung quanh hát thì không biết là sẽ như thế nào lại nhìn đám hộ vệ và cung nữ xung quanh, hắn tính chọn những người này tạo nên những môn đồ đầu tiên của dòng nhạc hiện đại. Quá tò mò vậy liền làm ngay. Quang Toản cho một đám đứng quây quần trước mặt hắn, bắt đầu tập bài hát đầu tiên, bài “tình mẹ” của nhạc sỹ Nguyễn Nhất Huy.“ khẽ ngắt nụ hồng cài lên mái tóc xanh mẹ yêuTóc rối một đời vì năm tháng chở che đời conKhi thơ ấu con nào đâu có biết……Mẹ là những tiếng hát ấm áp ru con khi đông lạnh vềMẹ là những ánh nắng lấp lánh đưa con đi trên đường quê.”Phải công nhận trong việc hát hò con gái chứng tỏ ra mình tiếp thu nhanh hơn cánh mày râu nhiều. Nhất là các nàng Băng, Tuyết, Xuân, Hạ, Thu, Đông sáu tì nữ bên cạnh của hắn. Không biết có phải do hắn trước đó hay lẩm nhẩm bài này làm cho các nàng nghe được hay không nhưng quả thật là hát rất hay. Quang Toản đâu biết việc chọn tì nữ cho vua không hề đơn giản, nhiều khi còn khó khăn hơn cả việc thi hoa hậu sau này đấy. Chỉ là không truyền rộng khắp cho mọi người cùng biết mà thôi. Bởi vậy các cô gái được chọn đâu chỉ vì nhan sắc mà còn phải xem tính nết đến cả giọng nói…, xuất thân..v v. Nói chung chỉ kém việc vua chọn phi tần mà thôi. Đây cũng không phải là điều khó hiểu ánh trăng giọng hát vang lên đi sâu vào màn đêm yên tĩnh. Các bài hát cũng theo đây, ngày qua ngày, tháng qua tháng lưu truyền rộng rãi khắp dân gian. Được người người hát, triệu triệu người nghe. Danh tiếng về một vị vua tài đức, có nghĩa có tình đầy tài hoa cũng theo đó mà ưu truyền rộng đường phố buôn bán ở kinh thành Phú xuân- Lão Phúc! Không cần phải ngó trước ngó sau như vậy!- Hoàng… Hoàng công tử! Ta nên về thôi, con sợ không an toàn nếu nương nương mà biết con khó mà giữ nổi cái Mọi việc đã có ta gánh ông còn sợ gì!Đây là hắn hôm nay đặc biệt nổi hứng lên mặc thường phục đi vi hành. Ban đầu chỉ định mình hắn và lão Phúc cùng đi thôi. Nhưng đám hộ vệ chết sống không chịu, làm hắn một phen khổ não, cuối cùng cũng phải chịu nhượng bộ cho bốn người theo sau, với điều kiện tất cả cùng mặc thường phục đi bộ và không được đi quá Toản đâu biết ngoài bốn người theo hắn còn có khoảng năm mươi người nữa được bố trí bí mật đi theo bảo vệ. Hắn quả đúng xem thường vệ lâm quân của Quang Trung để lại rồi. Nhớ rằng tiền thân của vệ lâm quân bây giờ chính là gia tướng của Quang Trung vào những ngày cuối năm, phố sá tấp nập người qua lại. Năm nay còn đặc biệt hơn khi một lượng lớn thí sinh đổ về ứng thí, nên quán xá đầy khách, hàng hóa cũng bán chạy hơn mọi năm. Theo hắn biết giá cả các mặt hàng phục vị tết đã lên gấp đôi so với thường ngày rồi. Đây là chuyện khá dễ hiểu cũng không có gì đáng ngạc Toản kể từ khi xuyên việt đến nay đây là lần đầu tiên đi ra khỏi cung. Nhất lại đúng vào dịp tết này. Có nhiều thứ làm hắn vô cùng tò mò, mỗi gian hàng đều có mặt hắn gé qua, tự tay chạm vào vuốt ve hết cái này đến cái khác. Trông bản mặt liền biết hai lúa lần đầu lên thành phố. Chỉ là các ông chủ cũng đều là người tinh mắt, thấy hắn ăn vận khá đẹp, toàn loại vải tốt, bên cạnh còn có người hầu theo sau liền biết là con nhà giàu nên không lấy gì làm phiền mà còn ra sức chào nhiên hắn cũng ra sức mua, mỗi thứ mua một ít. Qua tiệm bánh mua liền mấy cái vừa đi vừa ăn. Khi qua tiệm đồ sứ mắt lại càng sáng lên “ ây da, toàn đồ cổ cả đáy, sau này muốn kiếm một mảnh vở cũng khó, phải mua về cất kĩ để dành cho con cháu” . lão Phúc phải chật vật khuyên một hồi hắn mới dừng lại không mua, khi cả bốn hộ vệ tay xách nách mang chật vật không chất nổi thêm cái chén sứ nào vì tính cách này của hắn mà ảnh hưởng lớn đến các thế hệ con cháu hoàng gia sau này theo đó cất giữ đồ vật đầy cả hoàng cung. Cuối cùng trở thành bộ sưu tập cổ vật lớn nhất thế giới. Người ta nói rằng, trong bộ sưu tập hoàng gia có ở ngoài chưa chắc đã có, nhưng ở ngoài có trong bộ sưu tập hoàng gia sẽ đi qua một tiệm trang sức lớn liền ghé vào. Lão chủ quán thấy hắn đã mua nhiều đồ ở các nơi như vậy liền biết khách sộp, lao ra chào hàng nhiệt Vị thiếu gia này, chỗ chúng tôi có nhiều mặt hàng, cậu cứ tự nhiên, loại nào cũng là ai chứ. Kiếp trước quen mắt với các loại trang sức tinh xảo rồi bây giờ nhìn vào đám trang sức đang trưng bày liền thấy không thích thú. Hắn nhìn một chặp liền bỉm môi lại lắc lắc đầu tỏ vẻ đám hàng này của ông quá tệ. Như hiểu ý, ông chủ cửa hàng đi vào trong mang ra một chiếc hòm nhỏ bảo quản cẩn Vị khách này ánh mắt thật cao. Chúng tôi đặc biệt mời khách quan xem cái này. Đây là vật áp trục chỗ chúng tôi đấy!- Ồ, cứ mở ra xem chủ quán ra bộ mặt cẩn thận ngó truocs hìn sau rồi mới khẽ mỏ nắp cho hắn Toản đúng là ngạc nhiên rồi. Đây chính là kim cương đấy là nhẫn gắn kim cương hơn nữa lại là hai chiếc khác nhau. Hắn đây là lần đầu được chạm tay vào kim cương lớn như vậy. Thấy vẻ mặt ngạc nhiên của Quang Toản lão chủ quán đắc ý Khách quan thấy được chứ?. Có thêm người trợ hứng nên đời sống tinh thần được tăng gia vị, Phượng Hiền đi theo hắn học được không ít bài hát, nàng còn hát cho mẹ hắn nghe khiến bà cười không ít, bữa cơm thường ngày tại cung Trường Thọ tăng thêm người càng thêm vui, hắn vốn định mời thêm cả Lê Ngọc Hân qua cùng dùng bữa cho ấm cúng nhưng thấy tạm thời khoảng cách hai bên chưa phải quá Trần Văn Kỷ và Phan Viễn bận tối tăm mặt mũi, lão Kỷ bận không nói, còn Lão Viễn đúng là bận tối mặt, may sao chuyện xuất nhập hàng, tính toán sổ sách đã có con gái lão Phan Hải Yến giúp dùm. Trước chuyến đi xa lão phải lo lắng chu toàn cho công việc ở nhà, mở rộng thêm nhiều khung dệt, xây dựng kho bãi, mướn nhân công, Quang Toản dặn lão Phúc mang thêm cho ông ta mấy tên thái giám trong cung ra phụ giúp mới phần nào ổn đến khi chưa thể đưa máy dệt hơi nước vào sản xuất thì phải dùng tạm khung dệt theo lối cũ, cộng với kĩ thuật dệt ba người do lão Viễn nghĩ ra để đáp ứng nhu cầu trước mắt cung cấp sản phẩm cho đám thương buôn nhà Smith. vì nhu cầu rất lớn nên không cung ứng đủ hàng Quang Toản nghĩ đến chuyện cho Phan Viễn thành lập hội nhà buôn tơ lụa mà thành viên chủ yếu là các ông chủ người việt, bí mật giới thiệu cho họ kỹ thuật dệt ba người để tăng nhanh sản lượng hàng hóa. Tuy rằng về lâu dài bí mật này sẽ bị truyền qua nhà Thanh nhưng đến lúc đó Quang Toản đã có thể cho xây dựng nhà máy dệt vải hơi nước năng suất hằng trăm lần, khi đó cái kỹ thuật dệt hiện tại coi như không còn ý nghĩa nữa đang lúc khuyến khích người dân trồng dâu nuôi tằm Quang Toản bỏ tiền túi cho thu gom rất nhiều tơ với giá cao, khiến trong dân gian mọi người bắt đầu có xu hướng trồng dâu để tăng thêm thu nhập, nhất là đám phú nông, vì có vốn nên ra tay nhanh nhất, người dân cũng chẳng chậm chân, những người đang có đất bỏ hoang không trồng trọt được lúa do thiếu nước thì nhanh chóng trồng cây dâu xen kẽ khoai lang. Những hộ vừa được nhận đất cũng chẳng chịu kém cạnh, có nơi chính triều đình chưa kịp phân đất người dân đã kéo lên tận quan phủ để đòi suýt nữa gây nên bạo loạn, may sao Ngô Thì Nhậm là người cứng rắn lão tuyên bố ở huyện phủ nào không phân đất kịp thể để cho dân náo loạn tất cả quan lại nơi đó sẽ bị cắt có chút vượt quyền nhưng Quang Toản đã giao hoàn toàn việc này cho lão, cộng thêm trên triều lúc này Ngô Thì Nhậm là một trong những nhân vật thét ra lửa có uy tín rộng khắp các tầng lớp sĩ phu Bắc Hà còn ai đứng ra chống đối chuyện này. Quang Toản nhận được không ít tấu chương kể tội Nhậm vượt quyền nhưng hắn không nói gì, xem như đang ủng hộ lão. Tuyên bố được phát đi khắp nơi khiến cho đám quan địa phương không thể ngồi yên. Cũng có một vài nơi xảy ra náo loạn nhưng không nhiều, chỉ chục vụ, vì thế số quan lại bị cắt chức trong vụ này không ít. May sao nội loạn không có tổ chức mà chỉ mang tính tự phát tức thời nên không gây ra hậu quả nghiêm chuyện này Quang Toản nhận ra được sự yếu kém trong hệ thống truyền đạt thông tin từ trung ương đên các địa phương của nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn sau này tuy rằng chẳng phát triển công cụ truyền tin gì nhưng họ đã cho xây dựng hoàn thiện các dịch trạm từ Bắc chí Nam, cứ năm mươi đến một trăm dặm lại có một dịch trạm, như vậy thông tin truyền đi sẽ nhanh hơn. Khi có thiên tai hay chiến tranh, sẽ giúp triều đình nhanh chóng nắm tình hình và cấp tốc chỉ đạo, giống như lần trước, người dân bị bão lớn mất hết nhà cửa như vậy nhưng phải gần hai tháng sau triều đình mới hay tin, cho thấy sự yếu kém của nhà Tây Sơn trong việc này tương lai sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng như thế đã bàn chuyện với Nguyễn Thế Lịch, kêu lão nhanh chóng hoàn thiện các dịch trạm theo mô hình như của Nhà Nguyễn sau này. Có chút hạn chế trong phần cung ứng ngựa nhưng không phải là không thể giải quyết, lão định kèo nèo với hắn chuyện kinh phí, bị hắn nhắc khéo đến món lợi sắp tới từ vụ phát hành tiền làm lão nhanh chóng thụt lại. Sắp đến phát hành tiền đồng, Bộ Hộ của lão thu lợi không ít lão còn phàn nàn chuyện gì nữa, kể ra đây là thông tin vui nhất mà đám bộ hộ nhận được suốt mấy năm qua, khiến ai nấy đi làm mừng vui ra mặt, nhất là công thần Nguyễn Tông Phú đi đâu cũng được đám Bộ Hộ tiếp đón tận tình còn nồng nhiệt hơn tiếp đón lão thượng thư Nguyễn Thế ra cũng không phải Nguyễn Tông Phú rảnh rang gì để đi đây đó chờ người khác chào đón, lúc này lão chạy đôn chạy đáo khắp nơi nhằm xây dựng hệ thống tiền trang, công việc nhiều không thua gì Ngô Thì Nhậm, lấy đâu sức chú ý người khác tiếp đón lão như thế nay hắn dời giá đi ra khỏi nội Toản đệ.. ah không Toản ca, hôm nay huynh định đi chỗ nào?- Cứ đi rồi biết, muội hỏi nhiều quá rồi khổ với cô nàng này, suốt ngày hỏi không luôn mồm, nhất là mấy cái lời bài hát, chẳng chịu ghi chép gì mỗi lần đều đi theo hỏi lại nhưng kỳ quái là chẳng bao giờ thấy nàng hỏi một vấn đề đến lần thứ ba, đừng nói cô nàng này chỉ nghe hai lần liền nhớ chứ. Hắn có chút thắc mắc nhưng chẳng muốn hỏi, vì chẳng muốn thấy bộ mặt ra vẻ đàn chị của nàng lúc đấy, có một chuyện hắn đành công nhận với lòng là nàng hát thật hay, hơn xa đám ca sĩ chỉnh âm ở kiếp trước nhiều. May sao nàng chỉ biết hát đúng điệu mà hắn dạy, còn nếu nàng tự mình cover nữa thì hắn chắc phải phục sát cùng cũng đến được chỗ công bộ, vũ khí ti Phan Thuận đứng sẵn đây đợi Hoàng Thượng vạn tuế vạn tuế vạn vạn Các khanh bình thân Tạ ơn Hoàng Toản nhìn về phía Phan Thuận Khanh cho người báo lựu đạn đang sản xuất khi đem ra thử nghiệm có vấn đề?- Đúng vậy thưa bệ hạ, số lượng nổ khá ít, trăm quả đem ra thử nghiệm chỉ khoảng bảy mươi quả phát nổ. Chúng thần đã cho làm cẩn thận nhưng tỉ lệ phát nổ không tăng lên bao nhiêu. Quang Toản nghĩ chuyện lựu đạn có nổ hay không chủ yếu phụ thuộc vào tỉ suất nén và ngòi nổ, những vấn đề khác không mấy ảnh hưởng là mấy. Hắn nhất thời cũng không nhớ ra mình sai ở chỗ nào, phải biết lúc ra chiến trường tỉ lệ nổ của đạn dược chính là máu và sinh mạng. Quang Toản kêu Phan Thuận đưa ra bãi thử chỉ khi nhìn tậm mắt hắn mới chuẩn đoán được nguyên thử phía sau xưởng sản xuất binh khí khá rộng, mười người cầm trong tay lựu đạn tháo chốt ném mạnh về phía bãi đất trống, Quang Toản theo thói quen ở kiếp trước dùng tay che tai cúi người thấp xuống, một phan ứng tự nhiên của người lính khi phục vụ trong quân ngũ lâu năm. Chờ một hồi chẳng thấy tiếng động gì cả đến khi hắn buông tay xuống mới nghe tiếng nổ của lựu đạn, mấy lần thử sau cũng như vậy, chỉ khoảng bảy tám quả phát nổ tầm sát thương giảm sút nhiều so với tính toán của hắn, chỉ khoảng ba mét xung quanh mới tạo ra sát thương trí hắn ra tất cả mọi người lần đầu trông thấy khả năng sát thương của đám lựu đạn này đều ngạc nhiên không ngớt, cô nàng Phượng Hiền thậm chí lăng xăng đòi ra tự tay thử nghiệm, bị hắn và đám Phan Thuận nhất quyết gạt đi mới chịu thôi, chuyện nguy hiểm như vậy ai dám để nàng ta đi thử cơ Cái này chính là thứ ca gọi là lựu đạn sao?- cô nàng quay sang hỏi hắn, hắn cũng gật đầu cho qua chuyện, hơi đâu đi trả lời mấy câu hỏi bất tuyệt của nàngQuang Toản cẩn thận tháo gỡ một trái lựu đạn to như chai nước Dr. Thanh cẩn thận xem xét cô nàng Phượng Hiền đương nhiên không bỏ qua cặp mắt hau háu nhìn các thao tác kỳ lạ của hắn, cuối cùng đưa ra kết luận đây là do thuốc nổ mồi không đủ tiêu chuẩn. Rất nhiều người không phải trong chuyên nghành nên không biết trong một vỏ đạn không chỉ chứa một loại thuốc nổ thường là TNT thật ra trong đó cần một số loại chất nổ khác có tính nhạy nổ cao để làm kíp nổ hay lượng nổ mồi, làm cho quá trình nổ của lựu đạn xảy ra nhanh hơn cùng một tượng một cách dễ hiểu hơn, khi ta đi cắm trại muốn nhóm lửa, nếu chỉ có những thanh củi to thì sẽ rất khó nhóm, trong trường hợp đó cần những thứ dễ bén hơn để làm dẫn như giấy, lá cây… điều này cũng tương tự cho trong đạn dược. Muốn hiệu quả phải có chất dẫn nổ hợp lý, nếu không lựu đạn ném ra cả phút sau mới nổ như vừa rồi, lại còn quả nổ quả không thì chẳng có tác dụng gì đáng kể của lựu đạn, nên dùng từ mìn hay địa lôi thì thích hợp hơn. Trước đây hắn cứ nghĩ tại sao vào những năm này người ta ít sử dụng lựu đạn đến thế, bây giờ mới hiểu được cái nguyên nhân sâu xa trong đó. Xem ra cái dự án lựu đạn này đành tạm gác lại Khanh còn bao nhiêu quả như thế này?- Quang Toản quay sang hỏi Phan Thuận- Khởi bẩm Hoàng Thượng! Còn khoảng năm ngàn quả?Năm nghìn quả trong thời gian ngắn như vậy theo kiểu hoàn toàn gia công không phải là ít, xem ra lão bỏ không ít công sức vào chuyện này, ngoài việc chế tạo lựu đạn lão còn phải đáp ứng nhu cầu về công cụ khai mỏ ngày càng tăng của Phạm Công Thiệu, tuy thời gian này thợ thầy trong xưởng của lão tăng không ít nhưng khối công việc không hề đứng tại chỗ mà ngày càng tăng cao theo xu hướng nhân rộng công việc khai khoáng Khanh cứ tiếp tục cho người duy trì sản xuất, chuyện chậm nổ hay không nổ trẫm sẽ có cách giải quyết sau, cứ mạnh dạn mở rộng khi thấy thiếu người, chuyện tiền công khanh không cần lo Tạ ơn Hoàng Thượng chỉ dạy!Kể ra trong đám người thuộc hạ của hắn Phan Thuận là người câu nệ nhất, cũng không trách lão được, số lần bàn chuyện giữa quân thần là không nhiều đấy. Đám lựu đạn này tạm thời không thể ra chiến trường đánh công kiên nhưng sử dụng vào mục đích thủ trận doanh hay dùng trong luyện tập cho tân binh sẽ không tệ chút nào. Bởi vậy hắn vẫn muốn tiếp tục sản đến tân quân hắn mới nhớ, vì không thể chờ đợi quân của tướng Diệu trở về để tuyển chọn binh lính nên Quang Toản cho Phan Văn Lân tuyển từ đám thành vệ quân và cấm vệ quân ra thêm hơn ba trăm người, cộng thêm bảy trăm người trước đó là được hơn ngàn Toản cho chia làm bốn đại đội tầm hơn hai trăm năm mươi người theo thứ tự một lẻ một, một lẻ hai, mộ lẻ ba, một lẻ bốn, do bốn người làm đại đội trưởng là Trần Quách Tĩnh, Đỗ Quốc, Hữu Nam, Dương Thiếc. Các vị trí còn lại bên dưới tự mình bổ nhiệm phân chia. Đám người Trần Quách Tĩnh không mấy hài lòng với cách đặt tên này, xin hắn cho đổi cái tên gì cho có khí thế hơn, nhưng hắn chỉ cười nói chuyện này sẽ để sau, khi làm lễ thành lập tân quân sẽ có đáp ánSau một hồi bàn luận và tìm hiểu với đám Phan Văn Lân Lê Quang Hưng cùng mấy người Đỗ Quốc, Hữu Nam, Dương Thiết, Trần Quách Tĩnh. Cuối cùng quyết định lấy biên chế theo đội hình năm năm cho dễ tính, lại phù hợp với lối cầm quân hiện tại của các tướng soái Tây Sơn, theo đóMột tiểu đội có mười người trong đó có một tiểu đội trưởngNăm tiểu đội hợp thành một trung độiNăm trung đội hợp thành một đại đội………..Cứ năm năm như vậy mà tính lên, nhưng hiện tại chỉ dừng ở cấp đại đội mà thôi. Sau khi phân chia xong Quang Toản tạm thời cho họ tập kết bên cạnh một mảnh đất trống bên sông Hương gần Hoàng cung lệnh cho họ nhanh tự mình xây dựng doanh trại sau đó sẽ làm lễ thành lập tân 10 tháng 2 năm 1795 bên bờ sông Hương êm đềm chứng kiến cảnh tượng một đội quân mới ra đời mà sau này làm cho biết bao vùng đất đậy dự buổi lễ thành lập tân quân không nhiều chỉ có Lê Văn Hưng, đô đốc Tuyết, đô đốc Lộc, đô đốc Bảo. Nguyễn Phượng Hiền với tư cách là khách mời, còn chủ trì buổi lễ chính là Phan Văn Lân và Trần Quách Tĩnh. Một khán đài lớn được xây dựng tạm thời để làm nơi an tọa và phục vụ buổi Toản đứng lên hỏi Các ngươi là ai?- Là quân Tây Sơn! Quân Tây Sơn!- mấy người có kinh nghiệm phục vụ trong quân trại lâu ngày liền cất cao giọng trả Sai! Kể từ hôm nay các ngươi không còn là quân Tây Sơn, kể từ hôm nay các ngươi là binh sĩ Đại Việt ta, chiến đấu vì Đại Việt ta, nay ta ban cho các ngươi cái tên mới, cái tên sẽ làm cho các ngươi kiêu hãnh. Từ hôm nay gọi các ngươi là quân Lạc nói đến đây Quang Toản vung tay lên một lá cờ lớn nền đỏ, ở chính giữa có thêu hình cánh chim lạc màu vàng đang đuổi theo một ngôi sao năm cánh cùng màu hướng về cán Từ nay ngọn cờ cánh chim lạc này đi đến đâu bước chân các ngươi quân Lạc Việt sẽ đi theo đến đó bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng hắn chỉ tay vào ngọn cờ mà nói- Bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào. – đám quân sĩ phía dưới hô to, tất cả mọi người nhìn thật kĩ lá cờ bay phấp phới in hình cánh chim lạc như để ghi nhớ nó trong đó Trần Quách Tĩnh lên đọc mười tám điều trong pháp chế quân Lạc Việt, những cái này đa số hắn sao chép lại của QDND ở kiếp trước, có bổ sung thêm một số điều bắt buộc nhưQuang Toản là thống soái tối cao của quân Lạc Việt, mọi mệnh lệnh của thống soái tối cao chính là mệnh lệnh không thể Lạc Việt trực tiếp nằm dưới sự chỉ đạo của thống soái tối quân Lạc Việt tất cả không phân biệt cấp bậc đều gọi nhau bằng hai tiếng “đồng chí”.Quân Lạc Việt chiến đấu dưới ngọn cờ cánh chim lạc khi có ngọn cờ vung lên là vẫn còn chiến đấu, ở đâu có nó ở đó có sự bảo vệ của quân Lạc Lạc Việt từ nhân dân mà ra, sống và chiến đấu vì nhân dân, vì tổ quốc thân yêu dưới yêu cầu của thống soái tối cao……Phần còn lại là ăn cắp bản quyền từ kiếp trướcQuân Lạc Việt tạm thời tại chỗ huấn luyện dưới sự chỉ đạo của Phan Văn Lân, tập hành quân di chuyển và ném lựu đạn, đây là chương trình huấn luyện đầu tiên trước khi súng đạn được mang về. Kể ra còn khá nhiều thứ cần hoàn thiện từng bước, đầu tiên là mũ áo dày dép, sau là xây dựng hoàn thiện đội hình đội ngũ, khẩu lệnh. Hắn quẳng cho Phan Văn Lân một cuốn sổ trong đó ghi mấy cái khẩu lệnh mà hắn đã chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện hiện tại, dặn lão cứ theo vậy mà điển mới của quân Lạc Việt khiến nhiều người bất ngờ, nhưng tò mò nhất trong đám người này vẫn là Phượng Hiền, nàng ta cầm lấy mà đọc lâu lâu nhíu mày liếc nhìn sang hắn, khi biết pháp điển này là do chính tay hắn viết ra. Không biêt yêu tinh này có làm cái trò quỷ gì nữa không đây. Quang Toản tự nhốt mình trong phòng ba ngày, trong ba ngày đó hắn bắt đầu vẽ nên loại súng trường mới hoàn toàn chưa từng xuất hiện ở thế giới này, với rất nhiều chi tiết phá cách trước đó ai từng nghĩ đến, hoặc có nghĩ đến nhưng chẳng thể hoàn thiện được như vậy, thậm chí ở kiếp trước cũng không xuất hiện loại súng trường như vậy bao giờ, có thể bởi vì nó như đồ bỏ đi không ai thèm dùng. Nhưng khi nó xuất hiện vào lúc này, ở thời đại này lại đặt cột mốc thay đổi cả nền chiến thuật quân sự thế này kết hợp nhiều loại ưu điểm của nhiều loại súng mà Quang Toản biết ở thế giới kia, tùy thuộc vào mức độ hiểu biết cũng như tay nghề của thợ thầy ở thế giới này để thiết kế ra, mục đích ra đời của nó nằm ở hai yếu tố, Quang Toản muốn có loại súng trường tốt hơn nhằm giành ưu thế trước quân của Nguyễn Ánh, và thợ thầy ở Phú Xuân có thể làm ra, nếu không thể sản xuất thì cũng có thể gia kỳ chống Pháp năm 1889, nền kỹ thuật nước Việt lúc đó không khác với bây giờ là mấy, Cao Thắng chỉ với mấy trăm thợ rèn ít kinh nghiệm, trốn chui nhủi trong rừng, thiếu thốn đủ mọi bề vẫn có thể làm ra súng trường theo mẫu hiện đại nhất của pháp lúc bấy giờ, khẩu Gras Mle 1874, chỉ tiếc do quá thiếu thốn nên ông ta không thể làm ra được nòng có rãnh xoáy, Quang Toản thì lại khác, hắn có trong tay đội ngũ thợ thầy giỏi nhất Đại Việt vào lúc này, có các công cụ cơ khí vừa mang về từ Châu Âu, xen lẫn trong thợ thầy người Việt, có một lượng nhỏ những thợ sản xuất súng trường người da trắng mới gia nhập, được Trần Văn Kỷ mang về sau chuyến công du các nước phương Toản biết kỹ thuật súng đạn của thời đại này còn hạn chế nên chỉ dựa vào hình mẫu của chiếc Gras Mle 1874 mà cải tạo chút ít, hoặc giảm bớt hoặc nâng cao yêu cầu một số chỗ, sao cho vẹn cả đôi đường, vừa có được vũ khí tốt, vừa phù hợp với kỹ thuật súng đạn hiện ba ngày tính toán thiết kế, cuối cùng hắn cũng cho ra đời được một loại súng mới, ít ra là trên bản vẽ, có nhiều chi tiết cần độ chính xác cao nên hắn cho thợ mộc làm đến một bộ bằng gỗ, sau đó để thợ quan sát mà phục chế, sau ba ngày hắn nhận được ba chiếc súng mẫu đầu tiên. Khi bắn thử lại hư cả ba chỉ sau phát thứ hai, cả ba chiếc đều hư, khiến ba nhân viên thử súng bị thương. Tuy rằng đã lấy loại thép tốt nhất mua về từ Anh, loại này rất đắt tiền, hầu như gấp mười lần loại thép bình thường khác. Quang Toản cẩn thận ngắm nghía lại loại thép này, nói là tốt lắm nhưng đem so với loại thép xây dựng ở thế giới kia còn không bằng, chất lượng thép nổi lên thành một vấn đề cản trở bước tiến của Quang để tăng uy lực cho súng trường, Quang Toản cho sử dụng thuốc nổ trắng thay thế cho thuốc nổ đen thông thường, đạn cũng không dùng loại đạn cầu mà dùng đầu đạn dài nhọn, liền vỏ, Vỏ đạn bằng đồng, riêng đạn làm bằng thép có tỷ khối lớn lại rẻ tiền và dễ chế tạo. Mồi đá lửa được thay thế bằng mồi hạt nổ đặt ở đáy vỏ đạn, vì vậy súng trường mới làm ra có thêm bộ phận lò xo đẩy, gắn kết hợp với ra đời của loại đạn mới, cộng thêm sử dụng thuốc nổ trắng uy lực lớn, làm cho yêu cầu về chất lượng thép ở nòng và buồng phải rất tốt để chịu được áp suất lớn, khi thuốc nổ trắng trong vỏ đạn phát nổ tạo áp lực cho viên đạn bay ra khỏi nòng súng, vấn đề lớn nhất ở đây nằm ở các rãnh tuyến, nòng có rãnh tuyến đồng nghĩa với việc viên đạn bay ra khỏi nòng xoáy mạnh, giúp đường đạn chính xác hơn, cũng đồng nghĩa với việc lực ma sát tạo ra giữa đầu đạn vào nòng súng là vô cùng lớn, sức nổ mạnh của thuốc nổ trắng làm tăng sơ tốc đạn lên một con số khinh khủng a=800 m/s là nguyên nhân dẫn đến việc tăng ma sát, nòng súng nóng lên làm mòn đường rãnh tuyến, giảm tuổi thọ, nếu như nòng súng không được làm bằng thép có chất lượng đủ tốt, rất nhanh bị hư hỏng, nổ nòng, làm bị thương đến người sử lần thứ nhất thất bại, Quang Toản hiệu chỉnh lại thiết kế ban đầu, tăng thêm độ dày nhiều chi tiết đặc biệt là buồng đạn và nòng súng, lần thứ hai này có vẻ khá hơn một chút, mười chiếc súng thử nghiệm có dấu hiệu nứt khi bắn được mười hai viên liên tục, Quang Toản cho dừng lại không thử nữa vì sợ làm nhân viên bị thứ ba Quang Toản cho giảm kích thước viên đạn, thuốc súng nhồi cũng vì đó mà ít hơn, đương nhiên hỏa lực của súng cũng vì vậy mà giảm lại, biết làm sao khác được, đành nhịn đau nhìn sức sát thương giảm mạnh, sau đó tăng thêm độ dày của buồng đốt và nòng súng lần nữa, lại gắn thêm cánh tản nhiệt ở nòng, khiến súng mà Quang Toản thiết kế nặng đến gần 14 kg cho mỗi chiếc hoàn thiện, ở thế giới kia súng trường nặng như vậy chỉ có nước vứt nỗ lực này không mang lại hiệu quả là bao, khiến Quang Toản một lần nữa ôm đầu, liên tục nạp đạn và xạ kích hai mươi lăm phát, nòng súng có dấu hiệu nứt ra không chịu chỉnh sửa thêm vài lần, nhưng mức độ cải thiện không đáng mấy, cuối cùng Phan Thuận đề nghị đem thép trước khi gia công thành súng cho vào lò, dùng búa tôi luyện thêm vài lần thiên truy bách luyện’ để đạt chất lượng thép tốt hơn. Quang Toản thấy có lý bèn để lão y như vậy mà Thuận đem thép mua từ Anh về, đưa vào lò nung rèn qua thêm nhiều lần trước khi tạo ra nòng súng, công việc này đòi hỏi tốn kém thời gian và công sức, nhưng đúng là có thể làm tăng chất lượng của thép lên rõ rệt, nhưng sản lượng không được bao nhiêu, mỗi ngày một người thợ cùng lắm chỉ rèn được lượng thép đủ làm ba mươi chiếc súng trường là đã cực cùng loại súng mới cũng ra lò, mỗi sau khi bắn mười viên liên tục phải dừng lại lấy khăn ướt lau qua nòng súng, hoặc bắn chậm rãi, cứ mười giây bắn một phát, nhưng cũng không quá ba mươi lần như vậy phải dùng khăn ướt để lau nòng, chính vì làm ướt đột ngột khiến vòng đời của nó vô cùng thấp, sau khi bắn năm trăm viên đạn ắt phải bỏ đi, có thể dùng lâu hơn chút nếu như không sử dụng quá năm mươi viên đạn liên tục trong một thời gian ngắn, nhờ đó hạn chế việc làm lạnh cưỡng bức, nòng súng sử dụng được lâu hơn. Nhưng nếu liên tục bắn năm mươi viên không nghỉ, hãy coi chừng an toàn của người sử Toản nhận thấy sức chịu mỏi của vật liệu thép hiện tại trên thế giới vô cùng kém, sản phẩm từ các lò luyện do Thomas giúp xây dựng ở Thái Nguyên chỉ là thép non, dùng trong xây dựng dân dụng còn được, dùng trong ngành cơ khí hoàn toàn chưa đủ yêu cầu, trong bối cảnh hiện tại như vậy đã là thành công, còn về lâu về dài, không thể cứ mãi nhập thép tốt của Anh mãi được, phải tìm cách tăng chất lượng thép trong nước lên, ít ra có thể sản xuất thép tốt ngang bằng Châu tốt là loại thép có khả năng chịu mỏi cao, hay còn gọi là giới hạn bền theo thuật ngữ chuyên ngành, giới hạn bền là giới hạn biến dạng của thép khi chịu kéo chịu nén và chịu mài mòn, ở thế giới kia, từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20 những giới hạn này giống như những kỷ lục bị phá vỡ liên tục theo từng thập kỷ, cách chục năm người ta lại tìm ra cách gia tăng những giới hạn này của thép, và không bao giờ thấy dừng lại, cứ như giới hạn của thép sẽ là vô cùng vô tận vậy, nếu tiếp tục dày công tìm hiểu sẽ lại có kết quả mới tốt hơn hoàn vô vàn cách, vô vàn tổ hợp giữa nhiều chất để tăng chất lượng của theo theo từng yêu cầu mũi nhọn, chịu nén, chịu kéo, chịu mài mòn, chịu rỉ sét, chịu nhiệt, chịu biến dạng… nhưng nhìn chung tất cả các loại yêu cầu này vẫn phụ ở ba yếu tố chính, một là tỷ lệ các bon và sắt, hai là nhiệt độ tôi luyện, ba là tỷ lệ thành phần các hợp chất khác như, Mn, Cr, Ni, Mg. Quang Toản nhớ lúc trước còn đi học, trong tiết môn kỹ thuật vật liệu có nhắc đến vấn đề này nhưng học xong rồi trả cho thầy chẳng nhớ gì cả, bây giờ mới thấy hối hận, thầm nghĩ, sẽ đem vấn đề này nói với nhóm làm việc Thomas, cho mấy lão tìm ra tổ hợp loại thép tốt hơn. Quay lại với khó khăn hiện tại, sau thêm vài lần tinh chỉnh để giảm bớt khối lượng không cần thiết, cuối cùng loại súng mới cũng hoàn thiện. Quang Toản nhìn súng này chẳng biết phải miêu tả như thế nào. Chỉ đành lắc đầu thở dài tiếc nuối kêu lão ưu tiên chế tạo, hắn cần 3000 chiếc như vậy trong một tháng. Phan Thuận trán đầy mồ hôi đáp ứng một cách không chắc chắn.“ Thần xin cố gắng hết sức” lão nói.“ Phải cố hoàn thành, nếu không trẫm hỏi tội khanh, cho khanh tùy ý điều động cả nô lệ nếu cần” Quang Toản lên tiếng, lão cũng chỉ còn cách gật đầu đáp ứng. Phan Thuận tuy có trong tay cả vạn thợ thầy nhưng người biết tạo súng trên dưới chỉ ngàn người, đó là do mới đây lão tuyển thêm người dựng xưởng làm súng kíp theo mẫu châu âu do Phạm Viễn trước đó mang về mới được quy mô đó, nhờ vậy ngàn người này cũng có kinh nghiệm tương đối trong việc tạo súng, lão nhẩm tính để tạo 3000 khẩu trong một tháng, tức mỗi ngày phải tạo được ít nhất một trăm khẩu, chia đều cho 1000 thợ, mỗi một người hoàn thành một khẩu trong mười ngày, làm súng trường này công đoạn khó nhất chính là tạo rãnh tuyến trong nòng, đòi hỏi phải cần đến thợ khéo mới làm được, những phần còn lại đều không khó, cứ để người khác thay thế, có thể điều động thêm hai ngàn người khỏe mạnh làm trợ thủ cho họ, ngàn thợ giỏi này chỉ chuyên tâm vào làm bộ phận khương tuyến. Mỗi một người có đầy đủ trợ thủ trong mười ngày tạo ra một khẩu súng hoàn thiện là điều có thể thực hiện.“Không biết đạn này phải tạo bao nhiêu viên” Phan Thuận chợt nhớ đến, Quang Toản không nói sẽ tạo ra bao nhiêu đạn, đạn này nhìn bề ngoài dễ làm đấy, nhưng thực tế không phải ai cũng làm được, đặc biệt là vỏ đạn, cần phải thật khéo léo tạo khuôn, sao cho đồng nhất.“À… 150 viên cho mỗi khẩu súng như vậy, càng nhiều càng tốt” Quang Toản không chắc chắn trả lời, hắn vốn dĩ cần 500 viên cho mỗi khẩu, nhưng nghĩ đến chắc Lạc Việt quân không thể mang nổi 500 viên nên nói một con số cầm Thuận lần này đứng đực ra một chỗ như người mất hồn, một trăm năm mươi viên đạn cho mỗi khẩu súng, tương ứng cần đến 45 vạn viên đạn cho 3000 khẩu, lại chỉ sản xuất trong một tháng, trong khi đến lúc này trong tay vẫn chưa chính thức có khuôn đúc để sản xuất hàng loạt, lão xây xẩm mặt mày ngất xỉu ngay tại chỗ, Tình Tình phải châm cho lão mấy kim vào huyệt mới khiến lão hồi tỉnh, nếu lão biết ý định ban đầu của Quang Toản là 500 viên cho mỗi khẩu thì không biết sẽ còn phản ứng như thế trên giường bệnh, tỉnh dậy sau cơn mê, Phan Thuận miệng luôn thều thào như người vô hồn “Hoàng Thượng! Không thể a! Không thể! Không thể!..”“Tình Tình nàng nói hắn bị sao vậy?” Quang Toản quan tâm hỏi.“Ông ta bị ca làm cho sợ rồi, phải biết mỗi chiếc súng như vậy cần 150 viên đạn vậy 3000 chiếc cần bao nhiêu ca biết không? 45 vạn viên đạn đấy! Trong một tháng bắt ông ta làm 45 vạn viên đạn có lẽ ông ta lo lắng mà sắp điên rồi!”Đến lúc này Quang Toản cũng ngẩn người, 45 vạn? con số này đúng là quá lớn, chẳng trách ông ta phản ứng kịch liệt như vậy’ nhưng mà hắn cũng có nổi khổ trong lòng, trận chiến với Gia Định là điều không thể tránh khỏi, mà cơ hội tốt nhất để xuất quân là vào tết nguyên đán này, từ đây đến đó chỉ còn một tháng rưỡi, hắn cũng cực độ gấp gáp trong phán đoán, để giành được một chiến thắng trước quân Gia Định, yếu tố tiên quyết phải có chính là nhanh chóng và bất ngờ, nhanh chóng thì không nói rồi, nhưng bất ngờ, làm sao để bất ngờ, Quang Toản muốn khởi động tấn công vào tết nguyên đán để tạo bất ngờ, trong lúc đối phương đang ăn tết, cũng là lúc lơ là phòng bị nhất hắn sẽ tấn công, thời gian từ đây đến đó không nhân thứ hai để Quang Toản phải gấp rút tấn công Gia Định càng sớm càng tốt đó chính là muốn gấp rút hướng dư luận trong nước đến một chiến thắng quân sự, mà quên đi chuyện giá lương thực tăng cao theo từng ngày, phải mất ít nhất sáu tháng nữa chuyến tàu chở lương thực đầu tiên của thương đoàn Thuận An mới về đến Đại Việt, thời gian quá lâu trong khi giá lương thực không ngừng tăng cấp số cộng theo từng nhân thứ ba, theo dự đoán, sau khi dẹp yên nội loạn, đến tháng ba năm sau tức vào mùa gió nồm, Nguyễn Ánh ắt hợp quân đánh Tây Sơn, đến lúc đó với lực lượng trong tay Quang Toản chỉ có thể bị động chống trả, gió mùa như thần khí trợ thủy quân Gia Định, có thể bất ngờ đổ bộ quân vào bất kỳ chỗ nào trên bờ biển từ Quảng Ninh cho đến Tuy Hòa, trong tình thế đang thua kém về thủy quân, lẫn quân số hiện hữu của Tây Sơn ở các nơi nếu bị đối phương nắm rõ, Gia Định tất để điều đó hoàn toàn xảy ra, Quang Toản chỉ còn nước giơ lưng chịu đấm, thủ yếu thì phải tăng công để bù cho thủ’ tránh tình trạng đó buộc hắn phải tìm cách ra đòn trước để nắm thế chủ động, mà cơ hội thuận lợi nhất là ngay dịp lễ tết nguyên đán này, trước khi bước vào mùa gió đảm bảo cho một chiến thắng, Quang Toản cần đến một loại vũ khí ưu việt, nhưng xem ra là không hề thuận lợi chút nào rồi, có súng mà không đủ đạn cũng như không.“Hoàng Thượng! Phải cho Hồ Đồng giúp thần, mới may ra còn có chút ít hi vọng” Phan Thuận sau một lúc bình tĩnh, liền lên lão đúc vỏ đạn đồng cần sự khéo léo cao trong làm khuôn, trình độ và kinh nghiệm là hai yếu tố hàng đầu buộc phải có ở một người thợ đúc đồng, lão xem đi xét lại, cả nước chỉ có đám thợ đúc tiền dưới tay Hồ Đồng là có đủ yêu cầu này Toản ngẫm nghĩ chút đã hiểu được nguyên do trong đó, thấy ý kiến này là hợp lý nhất liền đồng ý, sai Hồ Đồng hiệp trợ với Phan Thuận cả hai cùng hợp tác làm việc. Hi vọng có thể tạo ra kết quả tốt nhất từ bộ đôi này. Hồ Đồng chủ quản việc đúc tiền xuất hiện ở chương bốn“Lựu Đạn trong kho còn được bao nhiêu?” Quang Toản hỏi Phan Thuận “Còn non chín vạn chiếc!” Phan Thuận trả Toản không biết từng đó có đủ không, theo cảm nhận của hắn là còn hơi ít, nhưng lúc này để làm đã không còn kịp, lựu đạn trong kho hiện tại nhồi toàn thuốc nổ đen, sức nổ không quá lớn, nhưng y dự đoán, chúng sẽ đóng vai trò quyết định trong trận chiến này. “Không biết loại súng này tên gọi là gì?” Phan Thuận thấy Quang Toản có vẻ không vui liền đổi chủ đề song lão chỉ nhận được một cái tên vô cùng khó nghe.“Gân Gà” Quang Toản nói lên hai chữ chẳng đầu chẳng đuôi rồi bỏ đi, để lại cái ngơ ngác của Phan trường Gân GàXuất xứ Đại ViệtModen Gan Ga 1795Loại rãnh xoáy bắn phát mộtTổng chiều dài tính cả lưỡi lê 1427 mmTổng cân nặng 9,2 kg điểm yếuCỡ đạn 6 mmổ đạn không cóKính ngắm quang học không cóThước ngắm cơ học 150mTầm bắn tối đa 500 mTầm sát thương hiệu quả 210 mTầm chính xác thực tế 100 mTốc độ bắn lý thuyết 12 phát/phútTốc độ bắn thực tế được dùng 5 phát/phút liên tục sử dụng 5phút điểm yếuChú ý tuổi thọ 550 lần khai hỏa khi có làm nguội nhanh bằng nước Miêu tả chung súng trường nạp sau, có kim hỏa, nòng súng có rãnh xoáy, không có ổ đạn, dùng loại đạn có vỏ bằng đồng, đầu đạn hình trụ. Trong ngự thư phòng, thư phòng là cách gọi văn nhã theo kiểu hán, nếu theo lối thuần việt của ta, liền gọi đây chính là phòng làm việc. Quang Toản đến đây đọc tấu chương, song khi cầm lên đọc lại chẳng hiểu gì. Đây không phải là do không biết chữ, đầu nhập vào thân thể Quang Toản, Quang Toản còn thừa hưởng trí nhớ của y. chỉ là do. Tấu thư viết bằng chữ hán khó hiểu mà thôi. Câu chữ lủng cà lủng củng do dùng quá nhiều từ hán việt. Lúc đọc tấu thư bằng chữ nôm mặc dù có khá hơn chút ít nhưng câu chữ vẫn không khá hơn được bao nhiêu, cứ như đọc truyện covert chưa edit trên mạng và kiếp trước vậy. Dùng một người hiện đại quen đọc với những câu chữ minh bạch sáng tỏ nghĩa, nay cầm quyển tấu chương còn khó hiểu hơn cả văn tế nghĩa sỹ cần giuộc. Cuối cùng Quang Toản dành phỉa để lại một đống bản tấu ở đó chờ nghĩ cách xử lý sau vậyXuyên việt cũng không phải là một lợi thế gì lắm cho cam ngoài chuyện biết trước một tí sự kiện lịch sử đây có nghĩa là không phải sự kiện gì cũng biết bởi vì không phải sự kiện nào cũng được lịch sử ghi lại hoặc ghi lại rõ ràng chi tiết, kiếp trước khi học lịch sử, hắn ngay cả nhứng mốc thời gian của các sự kiện chính còn chẳng nhớ được tí gì gọi là chính xác, việc gì cũng u u mê nên có thể nói ưu thế duy nhất của hắn cũng sụp đổ luôn rồi. Kể cả một tiến sĩ khoa học quân sự như hắn cũng phải chịu bó tay bó chân vậy. Ví như để một ông chủ nhà máy sản xuất nước giải khát vào giữa sa mạc vậy, chẳng thể làm được gì khi nền khoa học kĩ thuật của nhà tây sơn vào lúc này có thể nói là bằng như bây giờ quân đội đang phải tham gia chiến tranh, cái cần nhất lúc này đây là vũ khí, đơn giản như muốn làm một khẩu súng trường là cái mà hắn quen thuộc và tìm hiểu kĩ càng nhất, đúng vào chuyên ngành của hắn. Hắn thậm chí có thể đưa ra bản vẽ thiết kế các loại súng bộ binh, pháo binh, tiên tiến nhất thế giới đã được sản xuất ở kiếp trước song lại có thể sản xuất được hay không đó mới là vấn liệu sắt thép không đạt yêu cầu, máy móc sản xuất gia công lại không có, chẳng lẽ bây giờ hắn đem bản vẽ súng trường cho thợ rèn bắt họ làm. Chuyện này đúng là quá khôi hài như với điều kiện khoa học kỹ thật của nước Anh bây giờ thì đúng là có thể hoàn toàn sản xuất được một số loại súng trường nòng xoáy và thậm chí là pháo cối, song hắn là đang ở việt nam cuối thế kỷ 18 đấy. lúc này việc buôn bán trao đổi giữa phương đông và phương tây còn chưa phải là thời kỳ nhộn nhịp Tây Sơn lại chẳng có ưu thế gì, cả nước làm gì có chiêc tàu nào đủ lớn có thể đủ lớn vượt đại dương. Thương mại do sự trọng nông khinh thương của nhiều thế kỉ nối tiếp nhau để lại, với lại chính bản tính của đa số người việt cũng không có tâm lý coi kinh thương làm mục tiêu, tầng lớp có tiền của như phú nông địa chủ lại càng an phận thà cất tiền để mốc trong nhà chứ không dám mạo hiểm đi buôn bán, có chăng cũng chỉ là buôn bán nhỏ lẻ, làm người bán lẻ cho các thương nhân Nhà Thanh ở các chợ nghiệp thì coi như bằng không rồi, chẳng cần bàn cãi, trong nước ngay cả đồng dùng để đúc tiền cũng thiếu mà phải đi pha kẽm rồi cho tư nhân tự đúc tiền thì thử hỏi còn phát triển nỗi gì. Kim loại gang thép để trong nước cũng vô cùng thiếu thốn, chủ yếu là từ các con đường do buôn lậu từ nhà Thanh qua. Đó chỉ là một trong những dẫn chứng đơn giản mà thôi. Chưa kể đến hắn liệu có đủ tài chính để duy trì cái đất nước này qua vài lần thiên tai hay không nữa. Nếu như việc ứng dụng khoa học kĩ thuật tạm thời không khả thi vậy việc phát triển kinh tế thương mại cũng được đi đàng này muốn phát triển kinh tế thương mại cũng vô cùng khó khăn nha, thu nhập kinh tế của Nhà Tây Sơn lúc này cũng giống như với các triều đại trước, nông nghiệp gần như chiếm 99,9%, thuế khóa thu được hoàn toàn dựa vào việc thu thuế từ các mẫu ruộng năng suất cực kỳ thấp tính đơn vị bằng chén, mối mẫu ruộng trung bình hằng năm thu được khoảng 50-80 bát thóc, vậy mà đủ để vận hành cái bộ máy nhà nước này mấy năm nay thì thật đúng là quá may mắn rồi chứ đừng nói đến việc dư giả. Vậy phải phát triển thương nghiệp nhưng người dân ta còn nghèo, nhà nào có vài nghìn lượng là đã giàu nhất huyện rồi, dân mình làm buôn bán chỉ từ vùng này qua vùng khác là đã quá xa kinh doanh buôn bán nhỏ hẹp với gánh hàng rong ra chợ nếu lấy đó mà đánh thuế cao thì khác gì giết gà lấy trứng. Còn mở cửa biển giao thương với nước ngoài mà mình chỉ biết dựa vào các sản vật quý hiếm để trao đổi thì càng không khả thi, đầu tiên việc này không thường xuyên, cùng lắm chỉ làm lợi cho một bộ phận nhỏ thương nhân mà thôi, chủ yếu là thương nhân người hoa, sau lại xét đến trong nước làm gì có nhiều sản vật quý hiếm mà đem bán. Với lại khả năng trốn thuế là chắc chắn rồi, đất nước chẳng thu được lợi ích gì ở đây cả. Nghĩ đến chuyện vượt biển ra khơi buôn bán như người ta lại càng không khả thi. Thương nhân nước ta lúc này đây vốn ít lấy đâu ra tiền mua thuyền lớn ra khơi, còn thuyền nhỏ lại chẳng phải làm mồi cho sóng biển, với lại dân ta còn nghèo, sức mua có hạn, việc buôn bán thường ngày chỉ dừng lại ở con gà quả trứng, mét vải, lít dầu…vv mà thôi. Đã thế kinh tế nước ta còn bị lũng đoạn. lượng vàng bạc trong dân rất ít đa số bị các thương nhân nhà Thanh dùng thủ đoạn như đúc tiền lậu kém chất lượng bằng đồng pha kẽm, đưa sang ta tiêu thụ, chủ yếu là đổi ra vàng bạc, vật phẩm quý hiếm đưa trở về nước. Có thể nói nền kinh tế lúc này bị nạn đúc tiền lậu làm cho nát bấy. Quan lại trong nước thời kì này đâu ai ý thức được sự tai hại của việc này. Vấn đề này lại càng không thể giải quyết ngày một ngày hai được, vì nếu không sử dụng tiền do tư nhân đúc thì nhà nước cũng đâu có đồng mà đúc lại sau lưng các nơi đúc tiền này đâu thể thiếu bóng dáng của quan lại trong nước, hắn muốn nhanh chóng củng cố nhưng lại sợ nghẹn, nên nhớ hắn mặc dù là hoàng đế nhưng chỉ mới 12 tuổi nha. Quân quyền lại không nắm trong tay đấy. cơm cũng phải ăn từng miếng mà, bởi vậy việc gì cũng phải làm từ từ, không thể duy tân bách nhật’ được. Thế nhưng trong lòng Quang Toản cũng có một chủ ý khác có thể thực hiện ra việc này cũng khá đơn giản, ở nhà Thanh lúc này dùng hai loại tiền chính là tiền đồng pha kẽm, tiền xu có đục lỗ ở giữa, và loại tiền bằng bạc đúc ra thành thỏi dạng hình thuyền hay còn gọi là nguyên bảo, cứ mỗi một nghìn đồng tiền xu như vậy tương đương một lượng bạc. Bởi vậy Quang Toản định dùng chiêu gậy ông đập lưng ông, đúc tiền lậu đồng tiền xu của nhà Thanh, rồi cũng tương tự qua nhiều con đường đưa vào tiêu thụ ở nhà Thanh, thu gom vàng bạc lấy đó làm tiền tệ giao thương buôn bán với phương giao thương buôn bán với người tây là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi, thậm chí rất cần nữa là dằng khác. Vì do đặc thù giữa hai bên bởi vậy ta và tây không thể dùng tiền tệ của nhau, việc giao thương buôn bán giữa đôi bên lại cần dùng đến vàng bạc làm tiền tệ chung, đương nhiên phương tây vẫn thích dùng vàng hơn dùng bạc. Quang Toản nghĩ mãi cũng chỉ có cách này là hiệu quả mà thôi, với lại do khoảng cách gần nên việc qua lại với nhà Thanh hoàn toàn có thể đi lại giữa đường bộ và đường biển rất thuận lợi. các thương nhân châu âu coi nhà Thanh như một thị trường béo bở, họ vượt đại dương bao la đến đay chỉ vì miếng bánh ngọt này, nay mình ở gần bên như vậy mà không tận dụng hưởng chút bánh ngon thì đúng là phí của quay sang hỏi lão Phúc- việc đúc tiền do ai quản lý”.- Dạ bẩm việc đúc tiền là do công bộ quản lý, trong đó có một doanh chuyên đúc tiền” lão phúc thưa- Vậy ông cho gọi người của doanh đó đến đây đi, ta có chuyện muốn gặp” Quang Toản nói với lãoChừng một giờ sau trong phòng làm việc của HĐL đáng lý phải gọi là thư phòng, nhưng vì mình muốn đùng từ thuần việt nên gọi thư phòng là phòng làm việc có thêm ba người đang khúm núm chờ nghe. Quang Toản quan sát ba người khá lạ đang đứng trước mặt mình nhưng tai lại chăm chú nghe lão Phúc ở bên cạnh nhắc nhỏ lai lịch từng người, thực tế lão phúc cũng chỉ đọc và nhắc lại từ các bản ghi chép quan lại mà thôi chứ lão cũng mù tịt như hắn vậy. Theo miêu tả, người đứng đầu trong ba người là chính là Phạm Công Thiệu hiện đang giữa chức công bộ ti thuộc bộ công, nhìn Phạm Công Thiệu khoảng độ tầm 45 tuổi trông khá bình thường nếu đứng chung cùng một đám người thì chẳng có gì nổi bật, thuộc tốp người chỉ nhìn một lần là quên, nếu nói điểm ấn tượng mà Phạm quang Thiệu để lại theo quan sát của Quang Toản chính là làm da ngăm đen, không giống như một ông quan. Nhưng nếu như vậy mà khinh thường Thiệu thì coi chừng, 45 tuổi không dựa vào bất kì mối quan hệ nào, chỉ dựa vào công trạng của chính mình mà có thể leo lên đến chức công bộ ti tương đương với thứ trưởng thời hiện đại nhất là lại được chính Quang Trung sắc phong thì lại không phải chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài mà đánh gía hết được. Nghe lão Phúc đọc lại một loạt công trạng của y thấy y là người khá rành rẽ trong việc khai thác quặng mỏ. 'Từ những ngày đầu khi chiếm thành quy nhơn, từ một thợ rèn binh khí lại am hiểu việc khai quặng, trong buổi đầu nổi đậy, vũ khí thiếu thốn thì đây đúng như là đưa than sưởi ấm vào ngày tuyết rơi, vì vậy ông nhanh chóng được trọng dụng. Khi Bùi Đắc Tuyên lộng quyền, Thiệu theo bản tính tránh tranh chấp quyền lực nên giữ trung lập không tham gia vào trong đó, ẩn nhẫn không lộ mặt nên mới tránh được sóng gió triều chính.'Khai thác quặng mỏ là một trong những công việc quan trọng trong thời gian tới, nó ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài, đang chưa biết kiếm được người may sao hôm nay lại gặp đúng Phạm Công Thiệu, Quang Toản đang rất cần một người như Thiệu, vừa có tài lại không tham luyến quyền lực đúng là một đối tượng tốt để bồi dưỡng tay phía sau công bộ ti Phạm Công Thiệu chắc là Thư lệnh sử chủ quản việc đúc tiền tên Hồ Đông, và người còn lại là thợ cả Hiếu Hậu nghe Lão Phúc giới thiệu một lượt qua lai lịch của cả 3 người. Quang Toản nhìn về người đứng đầu tiên hỏi. “ Khanh là Phạm Công Thiệu”- Hạ quan Phạm Công Thiệu xin ra mắt bệ hạ” Ra hiệu cho Phạm Công Thiệu không cần đa lễ, rồi đưa mắt nhìn về phía hai người còn Hạ quan Hồ Đồng xin ra mắt bệ hạ”- Thảo dân Hiếu Hậu xin ra mắt bệ hạ” Hồ Độc Lập như trước tỏ vẻ cứ tự nhiên không nên quá câu Hồ Đông! khanh là Thư lệnh chủ quản việc đúc tiền”Hồ Đồng nghe vậy đầu tiên là nghĩ Không lẽ Hoàng Thượng định đúc tiền, Quang Trung thông bảo vừa phát hành nay lại đúc thêm tiền sao, việc này chưa nghe phông phanh gì hết’.-Thần chủ quản việc này . Chưa biết ý của Quang Toản ra sao nên Hồ Đồng chỉ trả lời ngắn gọn mà không đưa ra thêm ý kiến Vậy khanh xem có thể bắt theo đúc loại tiền này không. Vừa nói Hồ Độc Lập vừa đưa ra một số loại tiền đồng của nhà Thanh như Ung Chính Thông bảo và Càn long thông Đông cầm trong tay mấy đồng tiền Nhà Thanh quan sát một chút rồi đưa qua cho người kế bên mình là thợ cả Hiếu Hậu sau một hồi quan sát kĩ loại tiền này liền nói - Hạ dân thấy loại tiền này là loại tốt nhất của nhà Thanh đúc ra có tỉ lệ chênh lệch giữa đồng và kẽm là 7 3 tức là 7 phần là đồng 3 phần là kẽm. Loại này khá ít vì trên thực tế đa số tiền đang lưu thông chỉ có 6 phần đồng và 3 phần kẽm mà thôi, với lại mỏng và nhẹ lắm, chỉ bằng nửa tiền này Hậu không hổ là thợ cả có kinh nghiệm về việc đúc tiền đồng, Quang Toản khi nghe đến đây cũng không tự chủ được mà gật đầu tỏ ý tán đồng. bởi vì đây là loại tiền năm đó khi đi sứ nhà Thanh ban Thưởng mà có, sau khi về cũng cất trong cung đến hôm nay hắn mới cho người lấy ra. Loại tiền này khác hẳn với loại tiền hiện đang lưu hành ở trên thị trường- còn việc đúc loại tiền này chăc nghĩ thần hoàn toàn có thể tạo ra loại khuôn đúc của đó. Năm xưa tiên đế trước khi đi sứ qua nhà Thanh cũng từng cho Hạ Dân đúc loại tiền này làm vật cống phẩm, dù không còn khuôn đúc nhưng làm lại thì chẳng tốn mấy công”Thật không ngờ ngờ lại có chuyện này, thì ra trước đó Quang Trung đã cho người làm khuôn đúc tiền nhà Thanh để làm đồ cống phẩm cho chính nhà thanh, vậy chẳng phải có một lượng nhỏ tiền mà nhà thanh đang sử dụng có xuất xứ made in Đại Việt vậy nếu đúc loại tiền này thì tốn kém như thế nào. Quang Toản ra vẻ chăm chú khách sáo hỏi Hiếu vua dùng từ ngữ khiêm tốn đi hỏi, Hiếu Hậu cũng không có thời gian để ý mục đích của vua hỏi để làm gì, chỉ chăm chú dựa vào kinh nghiệm lâu năm trong nghề của mình mà trả lời thấu đáo -Theo như kinh nghiệm, đúc một thiên loại tiền này theo giá ở trong dân cần mất khoảng một lượng bạc nếu tính cả tiền công đúng theo tỉ giá của nhà thanh một thiên tiền đồng bằng một lượng bạc, nhưng thường loại tiền lưu thông trong dân gian càng về sau càng kém chất lượng. Mỏng hơn nhẹ hơn tỉ lệ đồng cũng theo thời gian mà giảm xuống. bởi vậy nếu đúc loại tiền đó, một thiên tiền đồng chỉ mất độ khoảng 5 chỉ bạc mà thôi, tuyệt đối không hơn con số này….”.Nghe bác thợ cả đúc tiền này giải thích một chặp Quang Toản được khai sáng nhiều điều. Nhà thanh từ thời Ung Chính do nhu cầu về số lượng tiền lưu thông tăng cao mà trữ lượng đồng và bạc ngày càng khan hiếm không đủ nhu cầu phục vụ tiêu dùng, Ung Chính bắt đầu cải cách tiền tệ quy định cho sử dụng tiền đồng pha kẽm theo một tỉ lệ nhất định. Cứ một ngàn đồng thì tương đương một lượng bạc cũng không phải là tự nhiên mà có, mà đã có sự tính toán do chi phí để đúc 1000 đồng trung bình hết khoảng trên dưới một lượng bạc mà ra. Còn ở đại việt do khan hiếm về đồng nhiều hơn nên một lượng bạc có giá trị tương đương 600 đồng. Quang Toản nghe vậy trong tâm càng hiểu vì sao thương nhân người hoa lại đúc tiền lậu từ nhà Thanh vào Đại Nam tiêu thụ. Đây là do tình trạng khan hiếm tài nguyên mà ra cả. Vậy mà sau này trong sách địa lý nước ta lúc nào cũng viết nước ta có rừng vàng biển bạc đất đai phì nhiêu tài nguyên đa dạng và phong phú dồi dào’. xin các bạn đóng góp cho mình một chút ý kiến, hoặc tài liệu có liên quan. mình xin cảm ơn.... cảm ơn các bạn đã ủng hộ mình trong thời gian qua.

nước lạc việt ở thế giới mới